Là
một quốc gia lớn thứ 7 châu Âu, Ba Lan toạ lạc ở giữa vùng đồng bằng
Bắc Âu, kéo dài từ Hà Lan đến dãy núi Ural của Nga. Đất nước Ba Lan gồm
nhiều tiểu vùng khác nhau, và ở từng vùng khác nhau đó tạo nên những
nét đặc trưng về văn hoá. Các thành phố ở Ba Lan có lịch sử lâu đời và
đã cùng với đất nước trải qua rất nhiều biến cố thăng trầm. Trong số
đó, cố đô Kracôp là một di tích lịch sử văn hóa lớn nhất Ba Lan, Tôrun -
nơi có các kiến trúc Gô - tich thời Trung cổ, đồng thời là quê hương
của nhà thiên văn Copecnich và Gđanxk là những thành phố hấp dẫn nhất
Ba Lan. Hiện nay, Ba Lan đang sở hữu 7 di sản văn hóa thế giới được
Unesco công nhận, đó là: trung tâm lịch sử Kracôp, mỏ muối Velitrka,
phố cổ Vacsava, phố cổ Tramocx, Torun, pháo đài của Đức mẹ ở Malborka
và khu rừng Belaveski cổ nhất châu Âu.
Tu viện Jasna Gora

Còn
gọi là Ðền thánh Jasna Gora, Ba-lan, là tu viện cho các tu sĩ Paulite
tại đó từ năm 1382. Nằm ở phía Tây của thành phố Czestochowa – trung
tâm của miền Nam Ba Lan, tu viện nằm trên ngọn đồi cao 300m. Trong
tiếng Ba Lan, Jasna Gora có nghĩa là Núi sáng. Nơi đây đã từng là pháo
đài của quân BaLan trong chiến tranh với Thụy Điển thế kỷ XVII, XVIII.
Đền
thánh Đức Mẹ Czestochowa là đền thánh quốc gia Ba Lan, được xếp thứ tư
trong số các trung tâm hành hương Kitô Giáo trên khắp thế giới, chỉ
sau Roma, Lộ đức, và Jerusalem. Hằng năm, hơn năm triệu tín hữu hành
hương đã đến đây chiêm ngắm bức ảnh thánh của Đức Mẹ, theo truyền tụng,
là do thánh sử Luca đã vẽ trên một chiếc bàn được chính Chúa Giêsu
đóng.
Theo
lời kể, thánh nữ Helena đã tìm được bức ảnh này tại Jerusalem vào năm
326 và đưa về Constantinople. Ở đây, con trai thánh nữ là hoàng đế
Constantine của đế quốc Roma đã kiến thiết một đền thánh dâng kính Đức
Mẹ. Bức ảnh thánh nhanh chóng được mến mộ vì ban nhiều phép lạ, và nhờ
đó mà thành Constantinople đã được cứu khỏi cuộc tấn công của quân
Saracens.
Không
ai biết rõ ban đầu Đức Mẹ và Chúa Con đã được vẽ với nước da màu đen
hay không. Có thể những ngọn lửa đã làm sém hoặc khói nến qua bao thế kỷ
sốt mến đã làm cho bức ảnh có màu đen sạm, và cũng vì đó nên thường
được gọi là Đức Mẹ Đen.
Có
nhiều truyền tụng khác nhau kể về sự di chuyển của bức ảnh. Một truyền
tụng kể rằng đó là quà tặng cho hoàng đế Charlemagne, và về sau, hoàng
đế đem tặng cho ông hoàng Leo xứ Ruthenia. Một truyền tụng khác kể
rằng một công chúa Hy lạp đã nhận được bức ảnh này như món quà cưới do
hoàng đế Byzantine gửi tặng, và khi lập gia đình với một nhà quí tộc
người Ruthenia, công chúa đã đem bức ảnh đến Belz.
Vào
thế kỷ XIV, khi quân Tartar xâm lăng Ruthenia, người ta cho biết Đức
Mẹ đã can thiệp khiến một đám mây lạ bao phủ ngôi nguyện đường có bức
ảnh, không để bị nguyện đường bị cướp bóc và làm cho quân xâm lược phải
lập tức tháo lui.
Về
sau, một thiên thần đã hiện đến với vua thánh Ladislaus xứ Opola trong
giấc mơ và thúc giục hãy đem bức ảnh đến Jasna Góra (Núi Ánh Sáng),
gần một ngôi làng hẻo lánh tên là Czestochowa. Vua thánh đã xây một tu
viện cho các tu sĩ dòng Phaolô coi sóc bức ảnh. Năm 1386, các tu sĩ
kiến thiết một đền thánh, vì vô số phép lạ đã xảy ra tại đây, nên đền
thánh này nhanh chóng nổi tiếng tại Ba Lan. Vua Jagiello sau đó còn xây
dựng một vương cung thánh đường đồ sộ bọc quanh đền thánh.
Vào
năm 1655, khi quân Thụy Điển xâm lược Ba Lan, một số binh sĩ và tu sĩ
quyết tâm tử chiến để bảo vệ đền thánh, và nài xin bức ảnh Đức Mẹ ban
ơn giải thoát. Họ đã đẩy lui quân xâm lược trong vòng bốn mươi ngày, và
cuộc chiến thắng nhỏ bé tại đây đã phấn khích người Ba Lan đến độ họ
đã tiến đánh và xua đuổi quân Thụy Điển ra khỏi bờ cõi. Để ghi ơn, vua
John Casimir đã tôn nhận Đức Mẹ Czestochowa làm Nữ Vương nước Ba Lan,
và đặt đất nước dưới sự bảo bọc của Mẹ.
Ba
Lan dành được độc lập năm 1919, nhưng không bao lâu sau lại bị người
Nga xâm lược. Ngày 14 tháng 9 năm 1920, khi quân xâm lược đến bờ sông
Vistula, chuẩn bị vây hãm thủ đô Warsaw. Giữa cơn ngặt nghèo, dân chúng
đã cầu nguyện cùng Đức Mẹ Czestochowa. Hôm sau – nhằm ngày lễ Đức Mẹ
Đau Thương – người ta kể lại Đức Mẹ đã hiện đến giữa đám mây trên bầu
trời Warsaw, và bọn ngoại xâm đã phải tháo chạy sau một loạt những cuộc
giao tranh. Sự kiện này được gọi là Phép Lạ bên bờ sông Vistula.
Năm
1717, Đức Clement XI đã công nhận bản chất hay làm phép lạ của bức
ảnh. Năm 1925, Đức Pius XI đã tái xác nhận Đức Maria với tước hiệu Nữ
Vương nước Ba Lan, và thiết lập lễ kính vào ngày 3 tháng 5.
Trong
thời gian Thế Chiến II, nhà độc tài Hitler ra lệnh cấm hành hương đền
thánh, nhưng các giáo hữu vẫn âm thầm đến nài xin sự phù trợ của Đức
Mẹ. Sau khi Ba Lan được giải phóng, nhiều tín hữu đã hành hương để tạ
ơn Đức Mẹ. Đền thánh này là địa điểm để tái dâng hiến nước Ba Lan cho
Đức Mẹ vào ngày 8 tháng 9 năm 1946, cũng như địa điểm tụ họp vào năm
1947, để nài xin Đức Mẹ can thiệp trước tai họa chủ nghĩa vô đạo nguy
hiểm. Chắc chắn lời cầu bầu của Đức Mẹ Czestochowa đã chấm dứt ách cai
trị vô đạo tại Ba Lan.
Ngày
nay, Trung Âu và Đông Âu đang mở cửa cho các du khách, đền thánh Đức
Mẹ Czestochowa lại được tiếp đón nhiều tín hữu hành hương hơn trước, vì
câu truyện Đức Mẹ nâng đỡ một dân tộc yêu tự do đã được loan truyền
khắp thế giới.
Krakow - Kinh đô cổ xưa của Ba Lan

Krakow
kinh đô cổ xưa của Ba Lan là một thành phố có nhiều di tích lịch sử và
những bộ sưu tập nghệ thuật vô giá. Nơi đây còn để lại nhiều dấu tích
của một thành phố cổ phồn hoa, một thời vàng son lộng lẫy, nguy nga.
Lâu
đài các vua Ba Lan được dựng trên đồi Wawel nhìn xuống dòng sông
Wissla. Thành phố này nằm trên con đường thương mại giữa Tây Âu và châu Á
từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI. Bảo tàng Wawel là một trong những bảo
tàng nguy nga, phong phú bậc nhất châu Âu. Trong nhiều phòng hoàng gia
ngày nay còn trưng bày những tấm thảm Phlamăng cùng các thứ giá trị như:
vương miện, vũ khí và những hiện vật nghệ thuật của Đông phương.
Nhà
thờ kiểu Gothique Wawel là một di tích nổi tiếng thế giới. Trong đó có
để tro xác của các vua Ba Lan. Và cũng tại nhà thờ này còn có một kiệt
tác điêu khắc: hậu bổ lớn bằng gỗ đa sắc do Veit Stoss sáng tạo năm
1477.
Thành
phố cổ Krakow cũng là một bảo tàng mênh mông chứa đầy những bảo vật
của nền kiến trúc cổ, đáng chú ý nhất là tòa nhà kiểu Gothique của
Cônlegium Maiút, có bảo tàng của trường Đại học Jagiellonia. Trường đại
học Jagiellonia do Casimir Đại đế sáng lập năm 1364 là một trung tâm
hội tụ của đời sống trí thức Đông Âu từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII.
Ngày nay, để chống lại sự hự hại của di tích lịch sử này do môi trường
sinh thái bị ô nhiễm, các nhà chức trách Ba Lan đã ra sức giảm nguồn
gây ô nhiễm bằng cách đóng cửa một nhà máy nhôm gần đó và dùng khí đốt
thay than. Đồng thời Ba Lan đã tiến hành một chương trình tổng thể phục
hồi các công trình cổ.
Ở
Uylika cách Krakow 13km, xưa kia có một mỏ muối được khai thác liên
tục từ thế kỷ XII. Giờ đây nó trở thành một công trình nghệ thuật hiếm
có: Sâu dưới lòng mỏ có nhiều tượng to nhỏ với các kích cỡ khác nhau và
cả những nhà nguyện khắc tạc bằng muối mỏ. Ở đây còn có những hồ ngầm,
một phòng nhảy kỳ diẹu. Theo thang máy xuống sâu 225m có một khu an
dưỡng. Tại đó các thầy thuốc còn tận dụng môi trường muối để điều trị
bệnh hen, suyễn và các bệnh dị ứng.
Trung
tâm lịch sử của Krakow nằm dưới chân Lâu đài Wawel, là nơi xưa kia
các vị vua Ba Lan ở. Do giá trị về văn hóa, nghệ thuật khu di tích lịch
sử Krakow được ghi vào danh sách di sản thế giới năm 1978.
Warsaw – Thủ đô của Ba Lan

Warsaw
hay Warszawa là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, niềm kiêu
hãnh, niềm tự nào của người dân Ba Lan. Nằm giữa lòng châu Âu, Warsaw
đã trải qua những tổn thất kinh hoàng của Đệ nhị Thế chiến, từng được
coi là biểu tượng của lòng quả cảm và ái quốc, và nay là thủ đô của xứ
sở từng là quê hương của cố Đức Giáo hoàng John Paul Đệ nhị.
Nằm
bên bờ con sông Wisla, cái tên Warszawa được tạo bởi Wars (người đánh
cá), và Sawa (nàng tiên cá trên sông Wisla). Có lịch sử hơn 700 năm,
thoạt đầu, Warszawa mới chỉ là một ngôi thành do hoàng thân xứ Mazovia
xây dựng bên bờ sông Wisla; ngôi thành ấy, nay vẫn còn dấu tích tại
Hoàng Cung Ba Lan. Dần dần, quanh ngôi thành, hình thành một khu vực mà
ngày nay, được gọi là Thành Cổ Warszawa. Từ năm 1550, trong lịch sử đầy
bão táp của Ba Lan, với những gián đoạn không đáng kể, Warszawa là thủ
đô của đất nước này.
Ngày
nay, du khách tới thăm Warszawa sẽ thấy khu Thành Cổ hòa quyện làm một
với Thành Mới và một số quận xưa là ngoại thành của thành phố. Thành
Cổ lịch sử của Warszawa, xưa kia, được chắn giữ bởi bức tường thành có
11 cửa ô, cũng như những chiến hào bao bọc thành phố. Hiện tại, những
chiến hào đã được thay bằng công viên, nhưng ở nhiều đoạn, chúng ta vẫn
có thể thấy bóng dáng của một thời qua những vách tường cổ còn sót
lại.
Warszawa
có công viên Hoàng gia Lazienki, công viên rộng lớn nhất, đẹp nhất và
nổi tiếng nhất - đã có hơn 300 năm tuổi. Tại nơi đây, ngay ở cổng vào
là tượng của Fryderyk Chopin, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm vĩ đại
của xứ sở Ba Lan, qua tượng đài kỳ vĩ được xây từ thập niên 20 thế kỷ
trước. Bị chiến tranh hủy hoại vào năm 1940, 18 năm sau, đại diện xuất
chúng của trường phái Lãng mạn trong âm nhạc thế giới lại được tái khắc
họa theo hình mẫu ban đầu, và đây cũng là nơi, trong mùa hạ, vào mỗi
ngày Chủ nhật hàng tuần, các nghệ sĩ dương cầm lại trình tấu những bản
nhạc bất tử của vị đại nhạc sư Ba Lan. Thong dong vài giờ theo những
con đường rợp bóng cây của công viên đại ngàn Lazienki, bạn sẽ thấy vô
vàn những dấu ấn của quá khứ, từ Cung điện Mùa hè của các triều đại vua
chúa Ba Lan đến tòa dinh thự tuyệt đẹp được xây từ thế kỷ XVII trên
mặt hồ, soi bóng nước.
Con
đường Hoàng gia, một trong những đại lộ rộng nhất của châu Âu nối Công
viên Lazienki đến Thành Cổ, nơi có những kiệt tác kiến trúc - nhà thờ,
cung điện, nhà hát - đã được xếp hạng của thủ đô xứ Ba Lan. Đó là Cung
điện Hoàng gia Warszawa tại Quảng trường Thành cổ, nơi sừng sững và
vươn cao bức tượng vua Zygmunt Đệ nhị trên chiếc cột đá cao 22 mét; đây
chính là vị vua đã dời thủ đô Ba Lan từ cố đô Cracow về Warszawa vào
thế kỷ XVI.
Khu phố cổ của Warszawa

Khu
phố cổ của Warszawa (tiếng Ba Lan: Stare Miasto, "Starówka") là quận
cổ nhất của Warszawa, Ba Lan. Khu phố này được bao bọc bởi Wybrzeże
Gdańskie, dọc theo sông Vistula, và bên cạnh các phố Grodzka, Mostowa và
Podwale. Đây là khu vực cổ nhất của thủ đô Warszawa và là nơi thu hút
du khách tham quan. Trung tâm của Khu phố cổ là Chợ Phố Cổ với các nhà
hàng Ba Lan truyền thống, các quán café và các cửa hiệu. Các phố xung
quanh nổi bật với các công trình kiến trúc thời Trung Cổ như tường
thành.
Khu
phố cổ Warszawa được xây dựng vào thế kỷ 17, thoạt đầu là thành lũy
bằng đất, trước năm 1339 thì thành được gia cố bằng tường thành bằng
gạch. Khu phố thị ban đầu phát triển xung quanh tòa lâu đài của Công
tước của Mazovia mà sau này trở thành Hoàng cung. Quảng trường Chợ
(Rynek Starego Miasta) được xây vào cuối thế kỷ 13 hoặc đầu thế kỷ 14,
dọc theo con đường chính nối lâu đài với Phố Mới về phía Bắc.
Vào
thế kỷ 19, trong thời kỳ Warszawa tăng trưởng nhanh, khu phố cổ đánh
mất tầm quan trọng của mình như là trung tâm thương mại và hành chính
của thành phố. Phần lớn khu phố cổ đã bị sao nhãng và trở thành nơi sinh
sống của tầng lớp dân Warszawa nghèo hơn. Mãi đến sau Thế chiến thứ
nhất sau khi Ba Lan giành lại được độc lập thì chính quyền địa phương
bắt đầu chăm sóc quận này.
Được
liệt vào danh sách những di sản văn hóa thế giới của UNESCO vào năm
1980, vì "đây là một hình mẫu nổi bật của một công trình gần như được
xây lại của một giai đoạn lịch sử từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20, Thành Cổ
của Warszawa với những tòa nhà mang nhiều phong cách khác nhau - như hậu
Gô-tích, Phục hưng hay Baroque - hẳn nhiên có thể chiếm được thiện cảm
của du khách gần xa. Warszawa cũng có những khu phố hiện đại với nhũng
tòa nhà chọc trời, kiến trúc tân kỳ và hấp dẫn, hoặc, có Cung Văn hóa
và Khoa học cao ngất 30 tầng, món quà của Liên Xô một thuở, đến nay vẫn
được giữ lại như di chứng của một thời, và vẫn là nơi khách du lịch
hay "quá bộ" lên đỉnh cao nhất 234 mét để có thể nhìn toàn cảnh thành
phố.
Lâu đài Giéc - manh khổng lồ: Di sản văn hóa thế giới
Lâu
đài Giéc - manh khổng lồ nằm ở Malbork, một thị trấn ở phía Đông tỉnh
Pomerania, bên bờ phía Vistula, kế sông Nogat. Đây là lâu đài kiểu Giéc
– manh lớn nhất châu Âu và người địa phương gọi nó là ngọn núi vĩ đại
nhất làm bằng gạch ở phía Bắc dãy núi Alps.
Ngoài
ra, Lâu đài Giéc- manh còn được gọi là pháo đài của Đức mẹ, bởi Lâu
đài được gia cố kiên cố nhất vào thời cổ ở châu Âu và là kiểu mẫu cho
loại kiến trúc phòng ngự kỳ diệu. Nó đã từng là kinh đô của các hiệp sĩ
Giéc – manh và là nơi cư ngụ của những thủ lĩnh. Sau khi người Giéch –
manh bị đánh bại, các lực lượng của Malbork đã chiếm đóng lâu đài này.
Cách đây vài năm, Lâu đài Giéc – manh đã được công nhận là di sản thế giới của Unseco.
Thị trấn Auschwitz – biểu tượng về sự bất hạnh của loài người
Năm
1942, quân Phát xít Đức đã biến trại thành trung tâm tàn sát hàng
loạt. Cứ mỗi ngày có khoảng 20.000 người bị hành hình và thiêu, trong
đó chủ yếu là người Do Thái. Khu tổ hợp trại tập trung này bao gồm 3
trại chính: Auschwitz I - trung tâm hành chính; Auschwitz II
(Birkenau)- trại hủy diệt (Vernichtungslager) và Auschwitz III
(Monowitz)- trại lao động. Ngoài ra còn có khoảng 40 trại vệ tinh, một
số nằm cách các trại chính hàng chục cây số, với số lượng tù nhân từ
vài tá đến vài nghìn người.
Để
nhấn mạnh rằng trại Auschwitz Birkenau là một biểu tượng của sự bất
hạnh của loài người, năm 1947 chính quyền Ba Lan đã biến nơi đây thành
một nhà bảo tàng, vào năm 1967 Đài tưởng niệm Quốc tế những người tử nạn
đã được xây dựng. Năm 1979, Usneco đã công nhận địa điểm này là Di sản
thế giới của nhân loại.
Wieliczka - mỏ muối lâu đời nhất thế giới

Tại
đây, muối tràn ngập mọi nơi, nơi đây có mỏ muối lâu đời nhất thế giới
và đã được Usneco công nhận là Di sản Văn hóa thế giới của nhân loại
vào năm 1978.
Mỏ
muối Wieliczka, nằm ở thị xã Wieliczka, ở vùng đô thị của thành phố
Krakow của Ba Lan, đã được khai thác muối ăn liên tục từ thế kỷ 13 và
vẫn đang sản xuất muối ăn. Đây là một trong những mỏ muối đang hoạt động
trên thế giới (mỏ xưa nhất là tại Bochnia, Ba Lan, cách Wieliczka 20
km). Mỏ có chiều sâu 327 m và dài hơn 300 km.
Mỏ
muối Wieliczka có một đoạn đường dài 3,5 km dành cho khách du lịch
tham quan các bức tượng của các nhân vật thần thoại lịch sử được chạm
khắc trên muối mỏ. Trong mỏ này có các phòng được chạm khắc đẹp, các
nhà nguyện và các hồ ngầm và các triển lãm minh họa lịch sử của ngành
khai khoáng muối mỏ ở Ba Lan. Mỗi năm có 800.000 du khách tham quan mỏ
muối này.
Hình
thành vào những năm 1044, trước kia muối ở đây được khai thác bằng
cách phun hơi nước vào để hòa tan những tinh thể muối, sau đó người ta
bắt đầu đào trực tiếp các tảng muối. Thời kỳ này, những nhà cầm quyền
Ba Lan đã thấy được lợi nhuận của nguồn khoáng sản này, nên họ đã kiểm
soát việc khai thác và phân phối. Bởi thế sau đó thu nhập từ muối đã
chiếm 30%GDP của cả nước.
Trong
nhiều thế kỷ, địa điểm nổi tiếng và khó đến này đã được nhiều du khách
đến thăm, trong đó có Nicolaus Copernicus, Johann Wolfgang von Goethe,
Alexander von Humboldt, Dmitri Ivanovich Mendeleev, Bolesław Prus,
Ignacy Paderewski, Robert Baden-Powell, Jacob Bronowski (người đã quay
những đoạn trong bộ phim The Ascent of Man trong mỏ muối), Karol Wojtyła
(sau là Giáo hoàng John Paul II), cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton,
nhiều nhân vật hoàng gia và vô số thường dân.
Trong
thời kỳ Thế chiến thứ hai, mỏ muối được quân Đức chiếm đóng sử dụng để
chứa các nhà máy sản xuất vật dụng phục vụ chiến tranh.
Mỏ
muối cổ xưa mang dáng dấp mê cung này đã tạo cảm hứng để dựng lại các
cảnh mê cung trong tiểu thuyết lịch sử Faraon, phát hành năm 1895 của
Bolesław Prus. Mỏ muối cùng với các nhà thờ, hồ và các lối đi tạo thành
một "thành phố ngầm".
Sau này, việc khai thác muối được quy củ hơn. Và mỏ muối này cũng được mở cửa cho công chúng tham quan.
Zamosc – Padua của miền Bắc

Tọa
lạc ở phía Đông Nam Ba Lan, Zamosc được mệnh danh là Padua của miền
Bắc, vì trung tâm thành phố được xây dựng theo phong cách Ý thời kỳ phục
hưng. Thành phố này lấy tên của nhà quý tộc người Ba Lan thế kỷ XVI là
Jan Zamoyski.
Nằm
trên những con đường mậu dịch dẫn đến Kiev và Lviv, Zamosc đã nhanh
chóng trở nên một môi trường đa văn hóa, với những người Do Thái, Mỹ, Hi
Lạp,… cư ngụ tại đây. Vào thế kỷ XVII, sự phòng thủ của thành phố này
đã đủ mạnh để đẩy lùi sự xâm chiếm của người Thụy Điển. Tại đây, trong
Thế chiến thứ II, quân phát xít đã tiến hành hành hình trên 8.000 dân
vô tội, để lại những đau thương cho người dân nơi đây.
Zamosc
có khu phố cổ nổi tiếng, với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp mắt và tồn
tại lâu đời. Đó là Quảng trường Chợ, là một trong những quảng trường
lớn nhất châu Âu vào thế kỷ XVI, với kích thước mỗi bề là 100m. Phía
Bắc quảng trường là tòa nhà thị chính, với ngọn tháp đồng hồ cao đến
52m.
Nhà
thờ tòa thị chính tọa lạc ở phía Tây quảng trường, là một trong những
nhà thờ trang nhã nhất Ba Lan, với một trong những quả chuông lớn nhất
đất nước có lịch sử 300 năm. Ngoài ra là tòa nhà Wilezek với những bức
phù điêu về tôn giáo…
Bởi
lịch sử lâu đời, gắn với những danh lam, di tích nổi tiếng, năm 1992,
Zamosc đã được công nhận là di sản văn hóa do Unseco trao tặng.
Kalwaria Zebrzydowska - địa phương với lịch sử huyền thoại

Kalwaria
là địa phương thu hút lượng khách viếng thăm nhiều nhất ở Ba Lan, vào
hai dịp tuần thánh trước ngày chủ nhật Phục sinh, để xem những vở kịch
huyền bí mô tả lại những khổ hình của Chúa do người dân địa phương
biểu diễn và vào Lễ hội Thăng thiên (15 tháng 8) - là ngày lễ Đức mẹ
Đồng trinh quan trọng nhất của Ba Lan.
Kalwaria
Zebrzydowska cũng là địa phương có một lịch sử đầy huyền thoại. Theo
truyền thuyết, bà vợ của một địa chủ ở Krakow là Zebrzydowski nhìn thấy
qua cửa sổ lâu đài nơi bà ở ba cây thánh giá đang cháy sáng rực và bay
cao dần lên. Chồng bà liền thiết lập một nhà thờ và một tu viện tại vị
trí đó. Vào thế kỷ XVII, gia đình Zebrzydowski thành lập ở núi
Lamclpronska một khu vườn đặt biệt với tên gọi là Con đường Thập tự để
làm nơi cầu nguyện và sám hối của ông, với lối kiến trúc độc đáo, phỏng
theo mô hình con đường của Chúa Jesus nhưng dài hơn nhiều lần. Chẳng
bao lâu sau một quần thể với 40 nhà nguyện đã được xây dựng, với nhiều
ngôi nhà được xây dựng theo kiểu của các công trình ở Jerusalem.
Ngày
nay những công trình được gia đình Zebrzydowski xây dựng nên trở thành
địa điểm tham quan của nhiều du khách. Tại đây còn có những di vật quý
giá nhất là Mộ của Jesus Christ, Nhà của Đức mẹ và Cổng Phía Tây. Các
di tích này đã được Unseco xếp hạng di sản vào năm 1999.
Thị
trấn Kazimierz Dolny được mệnh danh là đẹp nhất ở Pulawy, toạ bên bờ
sông Vistula. Thị trấn được đại đế Casmir thành lập vào thế kỷ XIV. Nơi
đây đã phát triển và trở nên giàu có qua việc buôn bán ngũ cố vào thời
gian chuyển tiếp của thế kỷ XVII. Ngày nay nó được coi như một trong
những địa điểm đẹp nhất ở Ba Lan. Nổi bật nhất ở thị trấn Kazimierz
Dolny là Quảng trường Chợ, nơi đây có nhiều ngôi nhà cổ có giá trị bậc
nhất, trong số đó là Mikolaf và Krzyszbyla, xây dựng từ những năm 1615,
với kiến trúc độc đáo kiểu những đường có mái vòm, lan can và những vật
trang trí theo kiểu thời kỳ Phụ hưng ở phía trước. Quảng trường chợ
cũng được viền bởi những căn nhà bằng gỗ được xây dừng từ thế kỷ XVIII.
Ngoài
ra, tại thị trấn Kazimierz Dolny còn có nhà thờ Giáo xứ, nguyên thuỷ
được xây dựng theo phong cách Gô – tích. Sau trận hoả hoạn năm 1561, nhà
thờ Giáo xứ được tái thiết lại và có một diện mạo mới – ngày nay được
coi là khuôn mẫu đẹp nhất còn tồn tại của phong cách Phục hưng Lublin.
Nhà thờ Giáo xứ còn là nơi lưu giữ những chiếc đàn organ có từ thế kỷ
thứ XVII với những buổi hoà nhạc thính phòng được tổ chức thường xuyên
tại đây.
Kazimierz
Dolny còn là một trung tâm nghệ thuật và văn hoá của Pulawy. Hàng năm
có rất nhiều nhà văn, hoạ sĩ và điêu khắc gia đến đây để tìm cảm hứng
sáng tác.
Torun - biểu trưng của công trình kiến trúc theo phong cách Gô - tích

Tại Torun có nhiều công trình kiến trúc mang phong cách Gô – tích rất độc đáo và tồn tại lâu đời
Toà thị chính cũ:
Là địa điểm thu hút được nhiều sự chú ý. Được xây dựng từ thế kỷ XIV,
Toà thị chính là một công trình kiến trúc kiểu mẫu theo phong cách Gô –
tích. Mặc dù đã được xây dựng lại và làm mới nhềiu lần vào thế kỳ XVI
và XVIII, công trình này vẫn giữ được nét quyến rũ kiểu Gô – tích của
nó. Với độ cao 40m, trong Toà Thị chính còn có nhà bảo tàng địa phương,
lưu giữ và thường xuyên tổ chức những buổi triển lãm về những món đồ
thủ công cổ xưa.
Ngôi nhà Dưới sao:
Là một trong những ngôi nhà đẹp nhất ở Torun, được xây dựng vào thế kỷ
thứ XVII. Mặt tiền ngôi nhà được trang trí với rất nhiều cây cối và
bông hoa. Ở trên nóc có một ngôi sao hình tám cánh. Ở đây có một phần
dùng làm nhà bảo tàng Nghệ thụât Viễn Đông.
Tháp
nghiêng: Thời xưa tháp nghiêng được sử dụng như một phần của hệ thống
phòng thủ thành phố. Đến thế kỷ XVIII, tháp nghêing được sử dụng làm
trung tâm giam cầm phụ nữ.
Tháp nghiên là một công trình có nhiều đặc điểm cá biệt nhất trong Phố Cổ.
Nhà thờ St.Johns:
LÀ nhà thờ cổ nhất, được xây dựng theo phong cách Gô – tích. Đến thế
kỷ XV, khi ngọn tháp của nhà thờ bị đổ, một ngọn tháp mới đã được xây
dựng lại với độ cao 52m, và trong đó có một chiếc chuông khổng lồ nặng
gần 7 tấn. Chiếc chuông có tên La tinh là Tuba Dei (Kèn Trompet của
Thượng đế) và được coi như là chuông lớn thứ hai ở Ba Lan.
Là
một quốc gia lớn thứ 7 châu Âu, Ba Lan toạ lạc ở giữa vùng đồng bằng
Bắc Âu, kéo dài từ Hà Lan đến dãy núi Ural của Nga. Đất nước Ba Lan gồm
nhiều tiểu vùng khác nhau, và ở từng vùng khác nhau đó tạo nên những
nét đặc trưng về văn hoá. Các thành phố ở Ba Lan có lịch sử lâu đời và
đã cùng với đất nước trải qua rất nhiều biến cố thăng trầm. Trong số
đó, cố đô Kracôp là một di tích lịch sử văn hóa lớn nhất Ba Lan, Tôrun -
nơi có các kiến trúc Gô - tich thời Trung cổ, đồng thời là quê hương
của nhà thiên văn Copecnich và Gđanxk là những thành phố hấp dẫn nhất
Ba Lan. Hiện nay, Ba Lan đang sở hữu 7 di sản văn hóa thế giới được
Unesco công nhận, đó là: trung tâm lịch sử Kracôp, mỏ muối Velitrka,
phố cổ Vacsava, phố cổ Tramocx, Torun, pháo đài của Đức mẹ ở Malborka
và khu rừng Belaveski cổ nhất châu Âu.
BUI ANH TUAN/ Mr - Sale & Marketing Manager MEKO TRAVEL Add:349/128 LE DAI HANH St. Ward 13 . District 11. HCMC. Viet Nam Tel : (0848) 39 62 68 68 - 39 62 11 38 Fax :(0848) 39 62 11 39 Email: anhtuan@mekotravel.com anhtuan_mekotravel@gmail.com Website http://www.mekotravel.com Cell phone : 01223882985 Hot line : 0916251939 Y/M : anhtuan_mekotravel



0 nhận xét:
Đăng nhận xét